SMEs Việt chuyển đổi số để tận dụng EVFTA

Bà Bùi Kim Thùy là Thành viên Hội đồng Cố vấn Harvard, Đại diện Cấp cao tại Việt Nam của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN (USABC). Trước khi gia nhập USABC, bà Thùy có nhiều năm tham gia đàm phán các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) mà Việt Nam/ASEAN là thành viên. Bà cũng là người viết đề án “Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa” mã Hoạt động ICB-42 của Dự án EU-MUTRAP (Dự án hỗ trợ thương mại đa biên của EU dành cho Việt Nam), góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính quan trọng nhất cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi không phải xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) – căn cứ pháp lý để doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế quan – thay vào đó, doanh nghiệp tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về xuất xứ khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa để được hưởng ưu đãi thuế quan từ một số FTA Việt Nam tham gia.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang gây ra nhiều biến động lớn cho nền kinh tế chính trị của các quốc gia trên toàn cầu nói chung, EU và Việt Nam nói riêng, bà đánh giá thế nào về ảnh hưởng của đại dịch tới hiệu quả thực thi EVFTA sau 3 tháng FTA này có hiệu lực?

Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu chứ không riêng kinh tế của Việt Nam, kéo theo việc thực hiện tất cả các Hiệp định Thương mại Tự do mà Việt Nam hoặc ASEAN là thành viên nói chung và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) nói riêng cũng chịu nhiều ảnh hưởng. Đại dịch đã khiến cho một số ngành như du lịch, logistics hay hoạt động xuất nhập khẩu những nhóm hàng không thiết yếu gần như đình trệ hoàn toàn. Theo tôi nhân định, ở góc độ nền kinh tế toàn cầu, khu vực và Việt Nam, đây là ảnh hưởng tiêu cực và có rất ít điểm sáng trong một bức tranh vốn không có nhiều mảng màu sáng.

Bà Bùi Kim Thùy, Đại diện Cấp cao của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN tại Việt Nam. Ảnh: Hương Giang

Hiện tại, dựa vào số liệu tháng 8 và tháng 9 của Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan Việt Nam, chúng ta có thể đánh giá được phần nào hiệu quả thực thi EVFTA. Cụ thể, tỉ lệ tận dụng ưu đãi EVFTA của tháng 8 là 8,64% và tháng 9 là 14,65%. Nếu tính tổng 9 tháng năm 2020 thì tỉ lệ tận dụng ưu đãi là 11,64%. Tuy nhiên, dựa vào số liệu trên, tôi nghĩ sẽ khó để đánh giá chính xác hiệu quả thực thi EVFTA của 9 tháng năm nay do trước ngày 1 tháng 8 năm 2020, khi chưa triển khai Hiệp định, chúng ta chưa có cơ sở để so sánh có bao nhiêu phần trăm trong tổng số kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được hưởng thuế quan ưu đãi đặc biệt từ EVFTA và có bao nhiêu phần trăm còn lại phải chịu mức thuế tối huệ quốc MFN mà các thành viên WTO dành cho nhau. Thực tế cho thấy kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2020 từ Việt Nam đi EU (7,264.70 triệu USD) chỉ gấp đôi kim ngạch xuất khẩu của riêng tháng 9 (3,522.63 triệu USD). Xét về mặt tiêu cực, điều này thể hiện rõ ảnh hưởng dữ dội của đại dịch tới nền kinh tế. Xét về mặt tích cực, số liệu này lại cho thấy điểm sáng là riêng xuất khẩu của tháng 9 đã bằng một nửa của cả 9 tháng, chứng tỏ sức mua của thị trường EU đối với khả năng cung cấp hàng hóa của Việt Nam là rất tốt.

Như vậy, tôi cho rằng bước đầu nền kinh tế Việt Nam và EU đã và đang trên đà phục hồi, vận hành trơn tru hơn do ảnh hưởng của đại dịch đang dần được kiểm soát. Trên tinh thần đó, chúng ta không thể không công nhận tác dụng của EVFTA trong việc kích hoạt nền kinh tế của cả hai bên hướng về việc xuất nhập khẩu các nhóm hàng bổ trợ cho nhau.

Doanh nghiệp Việt, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), đang gặp thách thức lớn nào khi tham gia EVFTA?

Hiện DNVVN Việt đang chiếm khoảng 94% số lượng doanh nghiệp Việt. Khi được hỏi về vấn đề này, có lẽ nhiều doanh nghiệp trong số đó sẽ đề cập tới khó khăn về khả năng tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn ưu đãi. Tuy nhiên, tôi nghĩ thách thức lớn nhất của DNVVN Việt trong quá trình tham gia các FTA nói chung là việc thiếu đầu tư vào mảng pháp lý, thể chế. Thông thường, nếu phải tiết kiệm chi phí, DNVVN Việt lại chọn cắt giảm nguồn lực quan trọng, cần thiết nhất này.

Theo tôi, một nền kinh tế hay thể chế được coi là tiến bộ, hoàn thiện sẽ phải tạo ra hệ thống luật pháp để doanh nghiệp có thể phát huy tối đa sở trường, chứ không phải sở đoản của mình. Mặc dù không phủ nhận việc tối ưu hóa sở trường sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và tiền bạc nhưng theo quan sát của tôi, rất nhiều DNVVN Việt có xu hướng “khoán trắng” toàn bộ công việc liên quan đến logistics, thủ tục hải quan hay xuất nhập khẩu cho các công ty forwarder (công ty giao nhận) phụ trách. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ cắt giảm hẳn nhân sự hoặc đầu tư không đúng mức cho bộ phận này, dẫn tới tình trạng khi gặp các vướng mắc về pháp lý thể chế, doanh nghiệp phải làm việc với luật sư bên ngoài hoặc ra tòa xử lý tranh chấp khi “sự đã rồi”. Nói tóm lại, việc không được hưởng ưu đãi thuế quan hoặc không tận dụng được những thuận lợi (thay vào đó lại phải giải quyết thách thức) khi giao dịch thương mại quốc tế cũng một phần vì doanh nghiệp thiếu đầu tư về pháp lý thể chế nên chưa có đầy đủ hiểu biết, kiến thức về các FTA nói chung và EVFTA nói riêng.

Có nhiều nhận định cho rằng xu hướng chuyển đổi từ kinh doanh truyền thống sang các nền tảng số là quá trình tất yếu giúp doanh nghiệp hội nhập sâu rộng và tận dụng tối đa các cơ hội từ EVFTA. Vậy bà có nhận xét gì về nhận định này?

Tôi đồng ý việc chuyển đổi từ phương thức kinh doanh trực tiếp nơi người mua hàng phải gặp trực tiếp người bán hàng sang phương thức kinh doanh trực tuyến trên nền tảng số là xu thế tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch thời gian vừa qua.

Thực tế cho thấy kinh doanh trên nền tảng số sẽ giúp giảm chi phí bán hàng offline mà các công ty bán hàng thông thường phải chi. Bằng chứng là những doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh trên nền tảng số hoặc cung cấp dịch vụ số như Google, Microsoft, Apple, Facebook, Netflix, Amazon, v.v. vẫn có lợi nhuận và chỉ số tăng trưởng tốt trong thời gian diễn ra dịch Covid-19.

Mặc dù, đại dịch Covid-19 khiến cho doanh nghiệp khó có thể thực hiện các phương thức kinh doanh truyền thống nhưng đồng thời cũng là “cú huých” mở ra những cơ hội chưa từng có cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thời gian rà soát lại cách vận hành của mình, thúc đẩy doanh nghiệp phải tìm kiếm hướng đi khác. Những doanh nghiệp kinh doanh các ngành hàng truyền thống như cung cấp thực phẩm, dệt may, da giày hay đồ gỗ cũng đang tăng cường sử dụng các công cụ số hóa để tự nâng cấp và cạnh tranh với những doanh nghiệp khác.

Dù trực tiếp hay gián tiếp tham gia chuyển đổi số, xu hướng này sẽ luôn đem lại lợi ích to lớn và lâu dài cho doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng khi tham gia EVFTA.

Ngược lại, EVFTA có thể góp phần thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi số và tiến tới nền kinh tế 4.0 như thế nào?

Rõ ràng các FTA mang đến cơ hội thị trường đa dạng và triển vọng xuất khẩu hấp dẫn hơn, kéo theo thu hút đầu tư FDI nhiều hơn cho các thành viên tham gia Hiệp định. Ngoài việc đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế, EVFTA cũng là nền tảng giúp các bên chia sẻ những giải pháp để hỗ trợ lẫn nhau về nhiều mặt, trong đó có chuyển đổi số. EVFTA giúp cải thiện khuôn khổ quy định của Việt Nam về chuyển đổi số bằng cách tăng cường và thúc đẩy thương mại điện tử giữa hai bên (các điều khoản về thương mại điện tử của Hiệp định là rất tiến bộ), tạo lực hút đầu tư của châu Âu vào Việt Nam, cho Việt Nam có nhiều cơ hội để tiếp cận với các công nghệ của châu Âu, tạo thuận lợi để Việt Nam tăng tốc trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Từ khi EVFTA có hiệu lực, sản phẩm của Việt Nam phải cạnh tranh với các sản phẩm trong thị trường nội địa của EU. Từ góc độ một người từng làm chính sách ở khu vực công của Việt Nam, bà nghĩ Chính phủ có thể làm gì để hỗ trợ các DNVVN vượt qua khó khăn này, giúp DN tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu?

Theo tôi, trước hết, về phía khu vực tư nhân, doanh nghiệp xin đừng ngại cạnh tranh. Với những điều khoản tiến bộ và văn minh về lao động, môi trường, mua sắm chính phủ hay công đoàn nhằm mục đích tạo thương mại công bằng, EVFTA chắc chắn đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp để thực hiện. Tuy nhiên, cạnh tranh chính là yếu tố cần thiết nhất để vận hành một nền kinh tế thị trường khỏe mạnh. Nếu không có cạnh tranh thì không có động lực để phát triển. Dù là một doanh nghiệp nhỏ nhưng nếu làm đúng và nắm vững lợi thế của mình, doanh nghiệp sẽ không bao giờ sợ phải cạnh tranh. Ngược lại, trong trường hợp doanh nghiệp yếu, hay làm sai, làm ăn manh mún nhỏ lẻ với tư duy luôn mong muốn nhận được hỗ trợ từ các bên, trong đó có Chính phủ, chắc chắn sẽ sợ cạnh tranh và không thể thụ hưởng triệt để những lợi ích hợp pháp mà những Hiệp định thế hệ mới toàn diện như EVFTA hay CPTPP mang lại.

Thực chất, quan hệ thương mại EU-Việt Nam mang tính bổ trợ lẫn nhau, không cạnh tranh trực tiếp. Để có thể xuất khẩu sang EU, sản phẩm của Việt Nam phải cạnh tranh với sản phẩm của các nước có sản xuất tương đồng như Thái Lan, Trung Quốc hay Malaysia, chứ không cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của EU. EU vốn có lợi thế so sánh tốt trong việc sản xuất các nhóm sản phẩm công nghệ cao đòi hỏi độ chính xác cao, trang thiết bị y tế và dược phẩm, còn Việt Nam lại có thế mạnh tương đối trong sản xuất các nhóm hàng nông nghiệp. Như vậy, hai nền kinh tế này bổ trợ cho nhau và người tiêu dùng của hai bên đều được hưởng lợi từ việc mua sắm hàng hóa của nhau.

Về phía khu vực công, tôi cho rằng EVFTA là Hiệp định được Chính phủ đầu tư nhiều thời gian và công sức nhất từ trước đến nay. Chính phủ đã và đang làm tốt việc trang bị kiến thức về EVFTA cho doanh nghiệp Việt thông qua việc tăng cường sử dụng các công cụ và nền tảng số hơn trước để công bố thông tin, điển hình là việc xây dựng một website riêng cung cấp thông tin “đo ni đóng giày” về EVFTA cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ cần chủ động tiếp cận thông tin hơn nữa, lắng nghe tư vấn từ Bộ Công Thương và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và cập nhật thường xuyên những văn bản mới nhất về Hiệp định này.

Khu Hương Giang

Mạng lưới người Việt có tầm ảnh hưởng (VGLN)

Tin liên quan